Bất thường đường nét khuôn mặt và mô sẹo trên khuôn mặt không chỉ gây mất thẩm mỹ mà còn có thể làm suy yếu, hạn chế chức năng, gây
đau, ngứa và giảm chất lượng cuộc sống của bệnh nhân. Điều trị dị tật khuôn mzặt và điều trị sẹo là một trong những vấn đề khó khăn cho các bác sĩ phẫu thuật thẩm mỹ luôn quan tâm hàng đầu. Trong nghiên cứu nay, chúng tôi nhấn mạnh rằng ghép mỡ tự thân có vai trò quan trọng trong điều trị tái cấu trúc mô sẹo và các vùng da liên quan đến sẹo trên khuôn mặt, không chỉ cải thiện về mặt thẩm mỹ mà còn tăng cường chức năng. Các bác sĩ phẫu thuật thẩm mỹ có thể tiến hành cấy mỡ vào vùng mặt hoặc vùng sẹo sau khi thăm khám và chụp ảnh lưu trữ cho bệnh nhân (Hình 1).

Giải pháp để khôi phục khác khuyết hỗng trên khuôn mặt, sẹo và các mô bất thường là sự kết hợp của làm đầy bằng mỡ để tạo kết cấu khuôn mặt, sử dụng các canula và thao tác kỹ thuật của bác sĩ. Trong đó, bóc tách mô và chuyển mỡ là quan trọng nhất. Chuyển mỡ đơn thuần có thể làm giảm thể tích của các mô xung quanh và làm đầy vùng khuyết
chính, dẫn đến một thể tích mô nhỏ được dịch chuyển khép kín, nhờ đó làm giảm các tác dụng phụ đáng kể. Việc sử dụng PAL (Power-Assisted Lipoplasty Machine) có gắn canula không hút để bóc tách mô đã giúp ích rất nhiều cho bệnh nhân sẹo bỏng vùng mặt, hiệu quả mà ít gây chấn thương. Theo kinh nghiệm của chúng tôi, cấy mỡ tự thân có thể được sử dụng để cân chỉnh các vấn đề liên quan đến đường nét và khuyết hỗng mô mềm vùng mặt ở bất kỳ mức độ nào. Nguyên tắc của việc chuyển mỡ vào mô mềm trên khuôn mặt là nâng đỡ cấu trúc 3D đa tầng và đa hướng, có nghĩa là đưa lượng mỡ nhỏ vào các mặt phẳng giải phẫu khác nhau để đảm bảo môi trường có đủ lượng máu nuôi (Hình 2).

Hình 2
Từ năm 2001 đến nay, chúng tôi đã điều trị cho 131 bệnh nhân từ 1 đến 87 tuổi. Tỷ lệ sống sót của mỡ là rất cao ngay cả sau 10 năm theo dõi. Trong hầu hết các trường hợp, chúng tôi quan sát thấy thể tích
mỡ có giảm đi sau lần ghép đầu tiên; tuy nhiên, việc cấy lần 2 để tối ưu hóa kết quả chỉ cần thiết trong 2% các trường hợp. Trong những trường hợp này, việc cấy mỡ lần hai được thực hiện sau 3–26 tháng để cải thiện sự đối xứng của khuôn mặt. Không có biến chứng lớn nào xảy ra. Trong trường hợp bất thường đường nét khuôn mặt, chúng tôi sử dụng mỡ millifat, microfat và nanofat trong các lớp mỡ khác nhau. Trong trường hợp điều trị sẹo, mỡ được tiêm vào chỗ nối hạ bì-dưới da (ghép microfat) hoặc tiêm trong da (ghép nanofat). Theo dõi sau 1 năm – 10 năm cho kết quả từ tốt đến xuất sắc bởi cả bệnh nhân và bác sĩ. Đánh giá lâm sàng dựa trên Thang điểm sẹo Vancouver (Vancouver Scar Scale) và chỉ số hài lòng của người bệnh tăng lên đáng kể sau phẫu thuật (Hình 3).

Hình 3
Chúng tôi cho rằng cấy mỡ tự thân hầu như không có tác dụng phụ, đạt được sự cải thiện đáng kể về hình dạng vết sẹo (ví dụ:màu sắc), đặc điểm của da (ví dụ: kết cấu, độ đàn hồi) và đường nét khuôn mặt ba chiều thông qua việc phục hồi thể tích mô mềm. Tuy nhiên, cần đánh giá kỹ bệnh nhân trước phẫu thuật và nên sử dụng hệ thống mô phỏng hình ảnh 3D trước khi thực hiện.